Complete Book Review Of 3 Mistakes Of My Life Ppt Benjamin Franklin Autobiography Ebook Free Download Visions Business Plan Write Essay Reflections
Tổng Hợp

UAN Marketing 101 Buổi 2

marketing-la-gi
Cho đến cuối cùng, mọi nỗ lực marketing cũng quay về việc giao tiếp giữa người và người

1. Trong marketing không có nguyên tắc, chỉ có nguyên lý

Nguyên lý là những điều cơ bản, khái quát những nội dung cơ bản nhât của một học thuyết.

Trong marketing, học thuyết của Philip Kotler được thừa nhận rộng rãi nhất và được coi là lý thuyết cơ bản cần nắm vững trước khi tiếp nạp những thuật nghữ mới trong việc làm nghề.

2. Business model – tất cả chỉ xoay quanh 3 cái “tion”

  • Production
  • Operation
  • Communication

Mô hình canvas của Google và Facebook ở buổi học số 1 thì cũng quay về 3 cái này.

Tại sao Sale & Marketing lại tham gia vào cả 3 bộ phận trên của một business?

Trước kia, khi sản xuất ra nhiều háng hoá thừa, chúng ta đem đi bán và hình thành nên các khái niệm cơ bản về hàng hoá, giá trị, trá bán. Và khi nhiều hơn nữa, cạnh tranh giữa những người bán xuất hiện đòi hỏi người bán phải liên tục đáp ưng nhu cầu từ người mua hàng, mà cụ thể là nỗ lực luôn làm của mình tốt hơn, khác biệt hơn so với đối thủ. Đây là chính là ví dụ cho việc sale tham gia vào quá trình tạo ra sản phẩm để dễ bán hơn, cạnh tranh được với những đối thủ còn lại.

Ngày nay, sale là hoạt động giao tiếp trực tiếp với khách hàng, và từ đó đón nhận mọi feedback từ phía người họ. Sau đó, sale sẽ đem những thông tin đó về công ty để công ty có những sự thay đổi phù hợp về sản phẩm. Tương tự, sale cũng là người đón nhận những hậu quả trực tiếp của việc thiếu một quy trình vận hành hiệu quả và cũng là người tham gia vào việc tạp nên một hệ thống vận hành trơn tru hơn.

Sự khác nhau giữa Sale vs Marketing

– sale trả lời câu hỏi “how to sell” – làm sao đem tiền về cho cộng ty?
– marketing trả lời câu hỏi “how to sell more” – làm sao dùng số tiền đó để giúp đem về nhiều tiền hơn nữa, tức là giúp cái ông sell bán hàng dễ hơn nữa. Chứ marketing không phải để bán hàng.

Thế nên mới bảo làm marketing luôn bị sale cà khịa vì chuyên đi xài tiền của công ty cho những thứ đâu đâu. Marketing thì được ca tụng, sale thì è cổ ra đem tiền về để nuôi công ty mà chẳng được yêu thương. Làm cho bọn nhỏ mới học ra trường xong quyết ko đi làm sale, chỉ làm marketing. =))

Chính vì Marketing là kẻ chuyên đi xài tiền nên càng ngày các công ty càng có mong muốn kiểm soát các hoạt động marketing một cách hiệu quả, dẫn đến sự ra đời của Marketing Operations.

3. Marketing goals

– tạo khách hàng mới
– duy trì mối quan hệ với chính những khác hàng đó.

4. Marketing models

– Tất cả các hoạt 4P này đề nằm trong 3 “tion” của business model phía trên. Product, Price và Place (Operation), Promotion (Communication).

– Có rất nhiều mô hình khác nhau. Và nguyên nhân của sự ra đời các mô hình này đó chính là việc doah nghiệp nhìn nhận việc làm marketing của mình bây giờ khác hơn so với ngày xưa. Và việc này xuất phát chính từ sự thay đổi trong hành vi giao tiếp của con người, trong hành vi mua hàng giữa khách hàng và doanh nghiệp. Ở một mức độ nào đó, marketing phải là 4C chứ không nên là 4P, đơn giản vì họ nhận thấy sự hiệu quả của việc follow mô hình đó. Và tất nhiên, nếu học thuyết của họ chứng minh được sự thành công ở mức độ nào đó đủ lớn, nó hoàn toàn có thể trở thành nguyên lý và được giảng dậy như mô hình 4P.

– Người mới thì cứ lo học 4P đi đã, còn 7P, 3C hay gì gì P thì để sau.

5. Communications là

quá trình diễn ra sự giao tiếp giữa doanh nghiệp với khách hàng diễn ra trong các hoạt động direct sale + promotion + advertising + pr.

  • Giữa người với người, dựa trên nguyên tắc win – win cùng có lợi. Anh giải quyết được một vấn đề nào đó từ đó cuộc sống của anh tốt hơn theo một cách nào đó, còn tôi thì được tiền trong việc giúp anh giải quyết vấn đề đó.
  • Nói làm sao để người ta hiểu mình, nhớ tới mình và chịu kết nối với mình.
  • Doanh nghiệp là người chủ động trong quá trình giao tiếp này vì người mua hàng luôn có quyền lựa chọn và có rất nhiều lựa chọn trong việc giao tiếp với các bên khác, không phải mình.

Marcom là việc kể câu chuyện. Câu chuyện nằm ở sản phẩm, vận hành. Chúng ta chỉ là người đi kể chuyện chứ bản thân không tạo nên câu chuyện.

Marcom cần trả lời những câu hỏi cơ bản

Doanh nghiệp là ai? bán cái gì? cái đó có cái gì tốt? nó tốt như thế nào và cụ thể của việc giải quyết vấn đề đó thì đem lại điều gì cho người mua? mua như thế nào? mua ở đâu?

Marcom trả lời những câu hỏi này chính là việc tạo ra nhận thức trong đầu người dùng về doanh nghiệp và công ty cũng như giúp người dùng có thêm cơ sở để lựa chọn. Ví dụ như sản phẩm của anh A và B tính năng đặc điểm như nhau, thì bên nào rẻ hơn thì tôi chọn, bên nào được chính phủ-báo chí nói tốt hơn thì tôi chọn, bên nào có chính sách tốt hơn thì tôi chọn…

7. Môi trường giao tiếp

  • Micro
  • Macro
  • Masco

Ví dụ

  • Doanh nghiệp
  • Khách hàng
  • Cộng đồng
  • Chính quyền
  • Báo chí
  • Thể chế chính sách
  • Văn hoá
  • Địa lý

Ví dụ về việc Agency miền bắc mạnh về làm việc với gov và khi họ chuyển vào SG thì họ gặp áp lực vì sẽ phải làm việc với công chúng nhiều hơn. Ví dụ việc áp dụng kỹ thuật để tạo ra những trải nghiệm quảng cáo chỉ áp dụng được ở nước ngoài, có thể là do những yếu tố như khả năng kinh tê, tư duy của cả Client, Agency và các bên liên quan trong ngành…

Đã làm Marcom là phải hiểu được môi trường giao tiếp rồi mới đó lựa chọn phân ngành nhỏ hơn để đi sâu vào.

9. Làm Digital thực tế chính là làm Marketing thay vì traditional thì giờ làm trên môi trường số

 

Post Comment